Tiền cổ bán đảo Triều Tiên - tư liệu và nhận thức

Thời kỳ các quốc gia phong kiến, bán đảo Triều Tiên, Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam là những nước đồng văn, trong đó có một hiện tượng là đều đúc và sử dụng "hệ thống tiền tệ Phương Đông", tức là loại tiền hình tròn, lỗ vuông, có ghi chữ Hán. Loại tiền tệ này đương thời thông qua các mối giao lưu kinh tế, mậu dịch có thể lưu hành chung. Hiện ở Việt Nam cũng phát hiện được nhiều loại tiền cổ của Triều Tiên. Tuy vậy, tư liệu và nhận thức về tiền Triều Tiên cũng còn nhiều hạn chế.
Cổ Triều Tiên là nhà nước ra đời sớm nhất trên bán đảo Triều Tiên, thuộc hậu kỳ thời đại đồ đồng thau, sơ kỳ thời đại đồ sắt. Đây là nhà nước chiếm hữu nô lệ ra đời vào khoảng thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên. Thời kỳ này không có tư liệu lịch sử hay phát hiện được bất cứ loại tiền tệ nào.
Thời Tam Quốc (Cao Câu Ly, Bách Tề, Tân La) (Thế kỷ 1 Tr.CN - 676) và Tân La thống nhất (676 - 935) cũng không có sử sách ghi chép gì về việc đúc tiền, sử dụng tiền, chỉ có đôi chỗ ghi chép đến chữ "tệ". Trong những mộ táng thời Cao Câu Ly cũng phát hiện được nhiều loại tiền. Những loại tiền này chủ yếu là "Minh đao", "An Dương bố", "Bình Âm bố" thời Chiến Quốc, tiền "Bán Lạng", "Ngũ Thù", "Tân Mãng" thời Hán. Những phát hiện khảo cổ học này cũng phù hợp với những điều ghi trong thư tịch "Kim ngân tài bố tận vu hậu táng". Đồng thời điều này cũng chứng minh rằng, đương thời các loại tiền sử dụng trên bán đảo Triều Tiên đều có nguồn gốc từ Trung Nguyên (Trung Quốc) chứ chưa tự đúc và sử dụng tiền riêng.

I. Tiền tệ thời Cao Ly (918 - 1392) :

"Tống Sử, ngoại quốc truyện, Cao Ly" có hai đoạn ghi chép về việc lưu thông, giao dịch thời Cao Ly. Thứ nhất ghi: Đại Trung Tường Phù năm thứ 8 (1015), Cao Ly Ngự Sự Thị Lang Quách Nguyên, cống Tống: "bất dụng tiền, đệ dĩ bố, mễ mậu dịch" (Không dùng tiền, dùng vải, gạo để giao dịch). Đoạn thứ hai trong "Cao Ly truyện": "Dụng mễ, bố mậu dịch, địa sản đồng, bất tri chú tiền, sở dự tiền, tàng chi phủ khố, thời xuất truyền vãn nhi dĩ. Sùng Ninh Hậu, thủy học cổ chú" (dùng gạo, vải để trao đổi mua bán, có mỏ đồng, không biết đúc tiền, được ban cho tiền thì đều cất vào kho, có khi xuất ra để chơi (mà thôi). Sau thời Sùng Ninh, bắt đầu học đúc).
"Tống Sử, ngoại quốc truyện, Cao Ly" lại chép: "Sùng Ninh (1102 - 1106) hậu, thủy học cổ chú, hữu "Hải Đông Thông Bảo", "Trọng Bảo", "Tam Hàn Thông Bảo" tam chủng tiền" (Thời Sùng Ninh về sau, bắt đầu học đúc, có 3 loại tiền "Hải Đông Thông Bảo", "Trọng Bảo", "Tam Hàn Thông Bảo").
Đinh Phúc Bảo trong cuốn "Cổ tiền học cương yếu", phần về tiền Triều Tiên có giới thiệu trên 10 loai tiền. Trong đó, trừ tiền "Triều Tiên Thông Bảo", "Thường Bình Thông Bảo" do họ Lý thời Triều Tiên đúc ra, các loại khác đều là tiền được đúc dưới thời Cao Ly. Theo đó có các loại "Càn Nguyên Trọng Bảo" tiền đồng, "Càn Nguyên Trọng Bảo" tiền sắt, hai loại tiền này lưng đều có chữ "Đông Quốc". "Hải Đông Nguyên Bảo", "Hải Đông Thông Bảo", "Hải Đông Trọng Bảo", "Đông Quốc Thông Bảo", "Đông Quốc Trọng Bảo", "Tam Hàn Thông Bảo", "Tam Hàn Trọng Bảo". Tổng cộng 9 loại.

1. Càn Nguyên Trọng Bảo:
Về năm đúc của tiền sắt "Càn Nguyên Trọng Bảo", không thấy có sử sách nào ghi chép. Đinh Phúc Bảo trong "Cổ tiền học cương yếu" cho rằng tiền sắt "Càn Nguyên Trọng Bảo" được đúc vào năm thứ 15 Thành Tông triều Cao Ly (996). Ông dẫn "Đông Á Tiền Chí": "Thiết chú "Càn Nguyên Trọng Bảo" tiền, vi Thành Tông thập ngũ niên (Tống Chí Đạo nhị niên), tứ nguyệt sở chú". [(Đúc tiền sắt "Càn Nguyên Trọng Bảo" vào tháng 4 năm Thành Tông thứ 15 (Tống Chí Đạo năm thứ 2 - 996)]. Lại dẫn "Cao Ly sử": "Thành Tông thập ngũ niên hạ tứ nguyệt Tân Tỵ chú thiết tiền". (Đúc tiền sắt vào mùa hạ, tháng tư năm Thành Tông thứ 15); Các sử sách trên tuy ghi đến việc đúc tiền sắt, nhưng cũng không nói là đúc loại tiền gì, nhưng "Đông Á tiền chí" và "Cổ tiền học cương yếu" cho rằng tiền sắt "Càn Nguyên Trọng Bảo" được đúc năm Thành Tông thứ 15 là chính xác. Do vậy có thể coi đây là đồng tiền được đúc sớm nhất thời Cao Ly. "Tống sử" cho rằng Cao Ly đến năm Sùng Ninh (1102 - 1106) mới bắt đầu đúc tiền là một nhận định sai lầm. Loại tiền này được chế tác phỏng theo tiền "Càn Nguyên Trọng Bảo" đời Đường, đường kính khoảng 25mm, mặt trước có 4 chữ "Càn Nguyên Trọng Bảo" kiểu chữ Lệ, đọc đối, chữ "Càn" theo lối cổ với bên phải được viết như hình móc câu. Mặt sau 2 phía trên dưới lỗ có 2 chữ "Đông Quốc".
Tiền đồng "Càn Nguyên Trọng Bảo" cũng không rõ năm đúc. Đinh Phúc Bảo trong "Cổ tiền học cương yếu" cho rằng được đúc thời Mục Tông (Mục Tông năm thứ nhất tương đương với niên hiệu Tống Hàm Bình năm thứ nhất). "Cao Ly sử - thực hóa nhị" ghi "Duy ngã tiên triều ... kim kế tiên triều nhi sử tiền" (Theo gương triều trước, tiếp tục đúc tiền). Ở đây chỉ ghi Mục Tông tiếp tục đúc tiền, chứ cũng không ghi tiền đấy là tiền gì. Tiền đồng "Càn Nguyên Trọng Bảo" có lẽ cũng được đúc cùng thời gian với tiền sắt. Tiền này có đường kính nhỏ hơn tiền sắt một chút. Cả 2 loại tiền này lưu truyền rất ít, rất khó gặp.

2. Hải đông Nguyên Bảo:
Niên đại của tiền "Hải Đông" tương đối chính xác, được đúc năm thứ 2 vương triều Cao Ly Túc Tông Vương Ngung (1097) (Tống Triết Tông Thiệu Thánh năm thứ 4). Mặt có chữ "Hải Đông Nguyên Bảo", chữ kiểu Chân phỏng Tống thể, đọc đối, tiền dày dặn chữ to. Đường kính khoảng 24mm, nặng khoảng 5gram, mặt sau phía dưới lỗ dường như có chữ, nhưng không đoán định được là chữ gì. Tiền "Hải Đông Nguyên Bảo" cực kỳ hiếm gặp, hiện nay mới chỉ phát hiện được ở di chỉ khảo cổ học Khai Thành. (Khai Thành thuộc thành phố Trực Hạt, Triều Tiên, cách vịnh Giang Hoa chừng 20km, đương thời là kinh đô của Cao Ly).
Vệ Nguyệt Vọng trong "Cổ tiền sách dẫn" cho rằng Túc Tông năm thứ 2 (1097) đúc tiền "Hải Đông Nguyên Bảo" là dẫn theo "Cao Ly sử - thực hóa nhị" ghi: "Túc Tông nhị niên thập nhị nguyệt, Trẫm thừa tiên vương chi nghiệp, tương dục hưng dân gian đại lợi, kỳ lập chú tiền quan sử bách tính thông dụng" (Túc Tông năm thứ 2, tháng 12, Trẫm kế thừa sự nghiệp của tổ tiên, muốn làm điều lợi ích hưng vượng cho dân gian, lập quan đúc tiền để cho trăm họ được thông dụng". Ở đây đề cập đến việc Túc Tông năm thứ 2 đúc tiền, nhưng cũng không ghi rõ là đúc tiền gì. Do vậy, tiền "Hải Đông Nguyên Bảo" vẫn còn một chút tồn nghi.

3. Hải Đông Thông Bảo:
Ðược đúc năm thứ 7 vương triều Cao Ly Túc Tông Vương Ngung (1102) (Tống Huy Tông Sùng Ninh năm thứ nhất). Tiền được chế tác theo phong cách tiền thời Tống, có các kiểu chữ Triện, Lệ, Chân, Hành Thư, đa phần là loại đọc vòng, có loại tiền chữ Chân đọc chéo là tương đối hiếm. Chữ trên tiền ngay ngắn, quy cách chỉnh tề. Đường kính khoảng 25mm, nặng 2.6 - 3.2gram. Tiền "Hải Đông Thông Bảo" được đúc nhiều, tương đối dễ gặp

4. Hải Đông Trọng Bảo:
Ðược đúc vào vương triều Cao Ly Túc Tông Vương Ngung (1095 - 1104). Căn cứ vào hình chế, có thể được đúc sớm hơn tiền "Hải Đông Thông Bảo". Mặt tiền thuần phác, văn tự mộc mạc, giống phong cách tiền "Càn Nguyên Trọng Bảo". Chữ trên tiền theo lối Chân, đọc vòng, mặt lưng trơn. Đường kính khoảng 25mm, nặng khoảng 4gram. Loại tiền này cũng tương đối hiếm gặp.

5. Đông Quốc Thông Bảo:
Ðược đúc vào vương triều Cao Ly Túc Tông Vương Ngung (1095 - 1104). Phong cách gần giống với tiền "Hải Đông Thông Bảo", ngoài tiền nhỏ, còn có loại tiền "triết nhị". Chữ trên tiền có các kiểu chữ Triện, Lệ, Chân, Hành Thư. Đa phần là loại đọc đối. Kiểu chữ Chân đọc vòng tương đối hiếm gặp. Dị bản của loại tiền này tương đối nhiều, to nhỏ không giống nhau, đường kính 23 - 25mm, nặng 2.4 - 3gram, lưng trơn. Tiền "triết nhị" có đường kính 30mm, nặng khoảng 5,8gram.

6. Đông Quốc Trọng Bảo:
Ðược đúc vào vương triều Cao Ly Túc Tông Vương Ngung (1095 - 1104). Kiểu chữ Chân mộc mạc, có 2 loại, đọc vòng, đọc đối, loại đọc vòng hiếm gặp hơn, lưng trơn. Căn cứ vào biên, viền cũng như thư pháp, có thể phân làm nhiều loại khác nhau. Đường kính khoảng 25mm, nặng 2.8 - 3.6gram.

7.Tam Hàn Thông Bảo:
Ðược đúc vào vương triều Cao Ly Túc Tông Vương Ngung (1095 - 1104). Phong cách giống tiền Đông Hải, Đông Quốc. Chữ trên tiền có các loại Triện, Lệ, Hành; Trong đó loại có chữ "Tam" viết kiểu Lệ biến thể tương đối hiếm gặp; Đều là loại đọc đối, lưng trơn. Đường kính 23 - 25mm, nặng 2.6 - 3.4gram. Tiền "Tam Hàn Thông Bảo" chế tác tương đối thô, biên, viền không quy chuẩn, mặt chữ không sâu.

8. Tam Hàn Trọng Bảo:
Ðược đúc vào vương triều Cao Ly Túc Tông Vương Ngung (1095 - 1104). Phong cách cơ bản giống "Tam Hàn Thông Bảo", chế tác tinh hơn 1 chút. Có 2 loại đọc đối và đọc vòng, lưng trơn. Căn cứ vào biên, viền, chữ trên tiền có thể phân làm nhiều loại bản khác nhau. Đường kính tiền khoảng 25mm.

II. Tiền tệ thời Triều Tiên :

Tiền thời Triều Tiên được phát hiện tại Việt Nam rất nhiều, đặc biệt là tiền "Thường Bình". Hiện tượng này cũng giống thời kỳ xuất hiện tiền "Hàm Phong" của Trung Quốc, tiền "Cảnh Hưng" của Việt Nam và tiền "Khoan Vĩnh" của Nhật Bản.

1. Triều Tiên Thông Bảo:
Năm 1393, tướng quân triều Cao Ly là Lý Thành Quế phế truất vua tiền triều, lên ngôi, đổi quốc hiệu là "Triều Tiên". Có thể phân làm 2 thời kỳ đúc tiền "Triều Tiên Thông Bảo". Giai đoạn sớm từ thời Thế Tông Lý Đào năm thứ 5 đến năm thứ 7 (1423 - 1425), đúc tiền nhỏ kiểu chữ Chân (Khoảng niên hiệu Minh Vĩnh Lạc), 4 chữ "Triều Tiên Thông Bảo" nét bút tinh tế, đọc đối, lưng trơn. Tiền có đường kính khoảng 24mm, nặng 3.2 - 4gram, chế tác tinh xảo, tuy có nhiều loại bản nhưng quy cách gần giống nhau, rất ít có dị bản. Giai đoạn muộn vào khoảng năm thứ 11 Nhân Tổ Lý Tông (1633, Minh Sùng Trinh năm thứ 6), chữ trên tiền kiểu chữ Lệ. Loại tiền này có chất đồng tạp hơn, chữ trên tiền không quy chuẩn, nét bút tinh, thô, đường kính tiền to, nhỏ không giống nhau. Biên tiền có loại biên rộng, có loại biên nhỏ, có loại do quan phủ đúc, cũng có loại do dân gian đúc. Ngoài ra có loại tiền "Đương thập" đường kính khoảng 45mm, nặng khoảng 30gram. Rất hiếm gặp.

2. Thập Tiền Thông Bảo:
Là loại tiền "đương thập" được đúc năm thứ 17 niên hiệu Chính Tông triều Triều Tiên (1793, Thanh Càn Long năm thứ 58 ). Đương thời lạm phát do đó đúc loại tiền này, tiêu cùng tiền "Thường Bình Thông Bảo". Mặt tiền có chữ "Thập Tiền Thông Bảo" kiểu chữ Khải, đọc đối, lưng trơn. Loại tiền này cũng tương đối hiếm gặp.

3. Thường Bình Thông Bảo:
Được đúc từ năm thứ 11 thời Nhân Tổ Lý Tông Triều Tiên (1633, Minh Sùng Trinh năm thứ 6). Mới đầu loại tiền này do Thường Bình sảnh đúc, nên được gọi là "Thường Bình Thông Bảo". Năm Túc Tông Lý Hanh (1678) lại cho phép các Sảnh, Tào, Doanh, Giám đều được phép phân công đúc tiền. Cho đến năm 1891 (Thanh Quang Tự năm thứ 17) bắt đầu dùng các loại máy móc để rập tiền. Như vậy, tiền "Thường Bình Thông Bảo" được đúc liên tục trong suốt 260 năm liền, đây là loại tiền chiếm địa vị thống trị trong lịch sử trung cận đại của Triều Tiên. "Thường Bình Thông Bảo" có các loại tiền nhỏ, "triết nhị", "đương ngũ", "đương bách". Trong đó tiền "triết nhị" có số lượng và chủng loại nhiều nhất. Chữ trên tiền đều là loại chữ Khải, đọc đối.
Ngoài loại tiền lưng trơn có rất nhiều loại lưng tiền có chữ: ghi nơi đúc, địa điểm đúc, ghi số, ghi giá, ghi thiên can địa chi, ghi ngũ hành bát quái, ghi 44 chữ "Thiên tự văn", có đến hàng nghìn loại, nhiều không thể kể xiết. Tiền nhỏ "Thường Bình Thông Bảo" đường kính 24 - 25mm, tiền "triết nhị" đường kính 27 - 29mm, tiền "đương ngũ" đường kính 31 - 33mm, tiền "đương bách" đường kính khoảng 41mm. Như đã trình bày loại tiền này được đúc trong một khoảng thời gian dài, nhiều địa phương đúc, do đó rất khó có thể phân biệt thật rạch ròi từng loại. Nhìn chung loại tiền có chất đồng tốt, chữ trên tiền ngay ngắn, đẹp là tiền do triều đình đúc giai đoạn sớm; Chế tác kém tinh xảo hơn do quan phủ thời sau đúc; chữ nghĩa vụng về, chất đồng tạp là loại tiền do dân gian đúc.

Tài liệu sưu tầm.