+ Trả lời bài viết
Kết quả 1 tới 1 của 1

Chủ đề: Những nhận định về tiền đồng đỏ xứ Đàng Trong.

  1. #1
    Super Moderator dungdang's Avatar
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Địa điểm
    Thành phố Hồ Chí Minh - Việt Nam
    Bài viết
    114
    Thanks
    3
    Đã được cám ơn 14 lần trong 13 bài viết

    Những nhận định về tiền đồng đỏ xứ Đàng Trong.

    NHỮNG NHẬN ĐỊNH VỀ TIỀN ĐỒNG ĐỎ XỨ ĐÀNG TRONG

    NGUYỄN ANH HUY

    Có một mảng tiền đồng rất lạ thường được tìm thấy ở các di chỉ khảo cổ thế kỷ 18 làm tôi băn khoăn mãi... Các công trình nghiên cứu tiền cổ Việt Nam trên thế giới hầu như vắng bóng, thỉnh thoảng chỉ nhắc đến chúng là những đồng tiền không giám định được. Còn cổ sử Việt Nam hầu như không đề cập rõ, chỉ nói qua vài hàng rời vụn rất khó chắp nối... Do vậy, để đi đến nhận định hệ thống tiền này, cần tổng hợp nhiều phương pháp : hồi cứu, loại trừ, quy nạp...

    MÔI TRƯỜNG LƯU HÀNH...
    Ở đây không dám đi sâu về sự hình thành và phát triển kinh tế thương mại vào thời đại đại mậu dịch quốc tế ở Tây nam Thái Bình Dương vào thế kỷ 17-18... vì đó là một đề tài vô cùng rộng lớn đã có rất nhiều hội thảo quốc tế. Nhưng có thể nói gọn : lệnh cấm hải của các triều đại phong kiến Trung Hoa và chính sách đóng cửa của Mạc Phủ Tokugawa (Nhật Bản) là những nhân tố khách quan làm thương nhân quốc tế rời bỏ thị trường Đông Bắc Á chuyển xuống Đông Nam Á; trong đó, Đàng Trong (Việt Nam) là một thị trường mới khai phá rất hấp dẫn và quan trọng. Nhờ đó, hàng loạt thương cảng dọc bờ biển Nam Hà ra đời, và qua các công ty hàng hải quốc tế như Công ty Đông Ấn Hà Lan - Anh - Pháp..., khu vực buôn bán này có thể xem như những trạm trung chuyển hàng hoá giữa các trung tâm vùng, trung tâm liên vùng với trung tâm liên thế giới...
    Giữa xứ Đàng Trong và khối đồng văn như Trung Quốc, Nhật Bản đều sử dụng chung một loại tiền và không phân biệt; mối quan hệ ngoại thương đã được rất nhiều nhà nghiên cứu tổng hợp(1), ở đây chỉ trích dẫn một vài điều có liên quan đến tiền tệ...
    Từ thế kỷ 15 đến giữa thế kỷ 16, người Nhật đã nhập tiền Vĩnh Lạc thông bảo từ Trung Quốc để sử dụng. Nhưng đến năm 1608, chính quyền Nhật cấm các loại tiền này để dần chuẩn hóa tiền nước mình; và đây là cơ hội để các thương gia Nhật đem các loại tiền cũ này xuống bán cho Đàng Trong - Việt Nam(2) mà người Hà Lan gọi là “món hàng có lời nhất”(3) :
    - Tháng giêng năm 1637, lái Hà Lan đã mang đến cửa Hàn (Tourane) 13.500.000 đồng zènes [tiền đồng của Nhật](4).
    - Ngoài người Hà Lan ra, người Trung Quốc cũng đem đến Đàng Trong một số lượng lớn tiền kim loại Nhật. Chẳng hạn vào tháng 9.1637, 4 chiếc thuyền của người Hoa chở từ Nhật tới Đàng Trong... 2 triệu zènes(5).
    - “Tiền đồng này là một món hàng nhập cảng được đòi hỏi nhiều nhất ở Đàng Trong... Những lái buôn Nhật thật là những tay cạnh tranh đáng sợ. Những tiền đồng họ mang ở Nhật sang, bao giờ họ cũng bán lại cho những kiều dân Nhật ở Faifoo [Hội An]...”(6).
    Ban đầu, các chúa Đàng Trong mua tiền đồng này chủ yếu để đúc súng chống lại Đàng Ngoài. Nhưng trong một môi trường của nền kinh tế hàng hóa, những loại tiền này lại trở thành nhu cầu sử dụng hóa tệ ngày càng tăng :
    - “Thời gian giữa các năm 1659 và 1684, ... cho phép các niên trưởng thành phố Nagasaki lập một sở đúc tiền để sản xuất các đồng tiền nhái lại các đồng tiền cũ của Trung Hoa để xuất khẩu”(7).
    - Năm Khang Hy thứ 27 (1688), chúa Nguyễn Phúc Thái từng phó thác cho một chủ thuyền người Trung Hoa tên Hoàng Khoan Quan đem hàng hoá qua Nagasaki mua bán và khiến y mang một phong thư trình Shogun Dyemitsu (Mạc Phủ Đức Xuyên) thỉnh cầu đúc tiền đồng viện trợ(8). Bức thư đó như sau: ”... Quý quốc và quốc gia tôi xa nhau... Nghe nói rằng ngày xưa, tuy xa nhau vẫn có quốc giao... Tôi thầm nghĩ, nước tôi bây giờ cần rất nhiều kinh phí cho lưu thông tiền tệ, nhưng kỹ thuật chế tạo tiền tệ không có, nên đành phải gác vấn đề tài chính lại. Tôi nghe rằng, ở quý quốc sản xuất đồng tốt, và chế tạo tiền tuỳ theo nhu cầu. Nếu thật như thế, tại sao không chế thật nhiều tiền bằng đồng để cứu những nước nghèo về tiền tệ. Điều mong muốn đối với quý quốc là quý quốc làm luật lưu thông tiền tệ ở nước ngoài, và giao dịch ở nước tôi và hai quốc gia chúng ta cùng được lợi...”(9).
    - “Thuyền Nhật... đổi hàng ở Trung Quốc... nhất là đồng... các thuyền mua (đem đến Đàng Trong) từ Quảng Đông: tiền đúc được lãi rất nhiều...”(10).
    - “Thị trường Quảng Nam đắt nhất là hàng của Trung Hoa như tơ sống, đồ dệt bằng tơ, vải Nam Kinh với các loại đồ sành sứ. Ngoài ra lại còn hai thứ hàng khác cũng bán chạy nữa là sách in và đồng đỏ...”(11).
    Sự phát triển kinh tế thương mại xứ Đàng Trong rất phồn thịnh và ổn định trong một thời gian tương đối dài. Ngay cả Hà Tiên xa xôi nhưng thời đó đã trở thành đô hội lớn: ”Mùa xuân năm Bính Thìn, Túc Tông hoàng đế thứ 11 (1736), lấy Thiên Tứ làm Đô đốc trấn Hà Tiên, ban cho 3 chiếc thuyền long bài, miễn cho thuế má. Lại sai mở cục đúc tiền để tiện việc buôn bán. Thiên Tứ bèn chia đặt nha thuộc, kén quân lính, xây thành bảo vệ, mở chợ búa, thương nhân các nước tới tụ họp buôn bán rất đông”(12).
    Kinh tế hàng hoá phát triển cùng quá trình đô thị hoá nên tiền tệ là yếu tố quan trọng: ” Năm 1733, thấy việc đúc tiền có lợi, công ty Đông Ấn - Hà Lan nhận với chúa đúc tiền đồng với trị giá 800.000 florins (1 florin = 27g bạc)...”(13), mà “hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam không có mỏ đồng, nước Nhật Bản thì thổ sản có nhiều đồng đỏ nên hàng năm tàu nước ấy chuyên chở đồng đến nước ta bán, nhà nước phái người đến thu mua...”(14). Rồi “năm 1755, Công ty Hà Lan thoả thuận với Võ Vương là hàng năm sẽ nhận một số tiền đúc trị giá 600.000 florins và điều kiện nộp cho chúa 12% và cho cai bạ 2%...”(15). Do vậy, rất cần tìm hiểu việc đúc tiền thời chúa Nguyễn...

    LẦN THEO THƯ TỊCH...
    Đại Nam Thực Lục Tiền Biên cho biết : Ất Tỵ (1725), tháng 4, mùa hạ, Nguyễn Phúc Thụ mới lên ngôi “đúc thêm tiền đồng. Buổi quốc sơ thường đúc tiền đồng nhỏ (in hai chữ Thái Bình), lại có tiền cũ và tiền Khang Hy nhà Thanh, dân gian vẫn thông dụng. Bấy giờ có người huỷ tiền để đúc đồ dùng, số tiền cũ ngày một hao cho nên có lệnh đúc thêm”(16).
    Còn trong Phủ Biên Tạp Lục thì Lê Quý Đôn ghi : ”Những kẻ gian thường hay phá tiền đồng để làm các đồ vật nên số tiền đồng cũ ngày một hao hụt. Đỉnh Quốc Công đã từng cho đúc tiền đồng, kể ra thì tốn phí rất nhiều. Đến thời Hiểu Quốc Công nghe lời người khách buôn họ Hoàng, chúa mới mua kẽm của nước Hòa Lan về đúc tiền, đồng thời mở trường đúc tại địa phận xã Lương Quán... Về chữ và khuôn vành chung quanh đồng tiền, người ta dùng kiểu mẫu tiền Tường Phù nhà Tống”(17). Sự ghi chép việc sử dụng tiền tệ thời chúa không rõ ràng, tôi cố gắng tìm tòi cũng chỉ thêm vài điều đơn giản : ”Các đồng tiền Khai Nguyên nhà Đường cùng với các đồng tiền niên hiệu Thuần Hoá và niên hiệu Tường phù nhà Tống đều được đúc bằng thứ đồng thật tốt và đúc thật kỹ lưỡng nên chôn cất dưới đất cũng không hư hỏng... Năm Giáp Tý, quân của Vương thượng vào đất Thuận Hoá tịch thu các kho công. Người ta tìm thấy số tiền xâu bằng lòi mây đến ngoài ba mươi vạn quan... Như vậy chúng ta mới biết trước kia khách buôn đã chuyên chở trộm số tiền ấy vào nước ta rất nhiều vậy”(18).

    TÌM HIỂU THỰC TẾ...
    Qua các cuộc dò tìm phế liệu, các cuộc khai quật có tìm thấy tiền cổ... tôi nhận thấy ở xứ Đàng Trong trước đây đã lưu hành phần lớn là các loại tiền mang niên hiệu Đường - Tống, một số ít niên hiệu Nguyên - Minh - Thanh và một số là tiền có hiệu rất lạ... Dựa vào đặc điểm, chất liệu, thư pháp(19) ... tôi đã phân loại chúng thành những dòng tiền sau :
    - Tiền Trung Quốc chính thực : là các loại tiền bằng đồng thau, đường kính 24mm, mang các niên hiệu Đường - Tống - Nguyên - Minh... rất dễ nhận biết và dễ tìm thấy.
    - Một số loại tiền mang niên hiệu đời Tống như Nguyên Phong thông bảo, Hy Ninh nguyên bảo, Gia Hựu thông bảo, Tường Phù nguyên bảo, Thiệu Thánh nguyên bảo, Thiên Thánh nguyên bảo... nhưng đúc to, dày, đẹp, chuẩn, sắc, mang thư pháp chữ Nhật là tiền mậu dịch quốc tế được đúc vào thời Go-Sain Tenno (Hậu Tây thiên hoàng - Vạn Trị nhị niên, 1659) tại Nagasaki(20).
    - Một dòng tiền mang niên hiệu Đường - Tống... và các hiệu lạ, khoảng 85 hiệu tiền, đường kính 23mm, bằng kẽm, thư pháp đặc điểm khác hẳn các loại tiền Trung Quốc, đã được tôi nhận định là tiền kẽm do chúa Nguyễn Phúc Khoát đúc từ năm 1746(21).
    - Một dòng tiền bằng đồng thau, nhỏ mỏng 20mm, khoảng 45 hiệu tiền, mang các niên hiệu thời trước kể cả Trung Quốc lẫn Việt Nam và các hiệu lạ, đã được tôi nhận định là của Mạc Thiên Tứ đúc tại Hà Tiên từ năm 1736(22).
    - Một dòng tiền Thái Bình thông bảo bằng đồng thau, đường kính 23mm, có rất nhiều đặc điểm riêng biệt, đã được các nhà nghiên cứu tiền cổ trên thế giới cho là do các đời đầu chúa Nguyễn đúc.
    - Một dòng tiền bằng đồng đỏ gồm 21 hiệu tiền thời Đường - Tống và các hiệu lạ, đường kính 22,5-23mm có màu gỉ nâu đen. Đây là dòng tiền tôi đang lưu ý tìm cách nhận định vì chúng chưa được khai phá và cũng là một thắc mắc của ngành khảo cổ học khi khai quật tìm thấy các loại tiền này.
    - Một số loại tiền tạp chủng, chưa phân lập được...
    Thực tế cho thấy các loại tiền chính thực của Trung Quốc triều Đường - Tống - Nguyên và sơ Minh (chủ yếu là 3 hiệu Hồng Vũ - Vĩnh Lạc - Tuyên Đức) do được đúc từ thế kỷ 10 đến 15 nên tại Việt Nam rất dễ tìm thấy cùng với các loại tiền Việt Nam thời Lê như Đại Hoà (1443), Hồng Đức (1470)... và các loại tiền này vẫn tiếp tục lưu hành tại Việt Nam trong nhiều thế kỷ 16, 17, 18. Ngày nay, các cuộc khai quật thường gặp hàng loạt tiền Đường - Tống này, nhiều khi những lô đến hàng tạ tiền cũ là do thương gia Hoa kiều tải sang bán cho chúa Nguyễn sử dụng bởi tiền cũ cũng chính là một món hàng hoá như Lê Quý Đôn đã ghi nhận. Mãi đến đầu thế kỷ 19 khi vua Gia Long ban hành tiền Gia Long thông bảo và không cho lưu hành các loại tiền thời trước thì nạn dùng tiền Trung Quốc mới được chấm dứt.
    Riêng dòng tiền bằng đồng đỏ, thường đi cụm với nhau, tôi chưa bao giờ thấy chúng đi kèm với các loại tiền trước thế kỷ 18 như Diên Ninh (1454) hay Hồng Thuận (1505)... mà nếu có tiền thời trước thì cũng có kèm theo luôn cả các loại tiền thế kỷ 18 như tiền của Mạc Thiên Tứ (1736), tiền kẽm (1746), hoặc tiền Cảnh Hưng (1740)... Điều đó chứng tỏ dòng tiền đồng đỏ này được đúc vào thế kỷ 18 và do một vị chủ đúc để sử dụng riêng.
    ĐẶC ĐIỂM HIỆN VẬT...
    Một điều rất đáng nói là dòng tiền đồng đỏ này và dòng tiền kẽm đúc từ năm 1746 cũng có liên quan mật thiết : hầu như tiền đồng dỏ có hiệu gì thì tiền kẽm cũng có hiệu đó, chỉ khác về chất liệu, y như được đúc cùng một khuôn vậy.
    Như sử ghi rõ năm 1746 đúc tiền kẽm có vành và nét chữ theo thể thức tiền Tường Phù triều Tống thì ở dòng tiền đồng đỏ cũng có tiền Tường Phù nguyên bảo[a] có đặc điểm thư pháp tương tự.
    Ngay cả những đồng tiền có hiệu lạ như Thiệu Phù nguyên bảo, Thiệu Tống nguyên bảo cũng có hình thức tương tự. Riêng tiền Phúc Bình nguyên bảo thì có loại bằng đồng đỏ, còn tiền bằng kẽm thì chưa thấy hiệu này bao giờ. Nhưng trong một chuyến đi điền dã vùng Lương Quán là nơi nổi tiếng từng đúc tiền kẽm thời chúa Nguyễn, trò chuyện với các già làng, trưởng tộc... họ cho biết trong những đợt đào đất đã bắt gặp những lô tiền kẽm vụn nát, trong đó đọc được là Khai Nguyên thông bảo, Phúc Nguyên (đọc chéo)... Theo kinh nghiệm, tôi cho rằng tiền kẽm Phúc Nguyên có thể là Phúc Bình nguyên bảo (đọc tròn), song chưa được thấy nên không dám kê vào danh mục tiền kẽm; nhưng đưa ra dẫn chứng này để thấy có sự tương đồng giữa tiền đồng đỏ và tiền kẽm.
    Còn tiền Thái Bình mà sử ghi: “Theo lệ cũ nhà Nguyễn, người nào mới được nối ngôi chúa thì cứ theo kiểu mẫu tiền cũ mà đúc, ở khoảng nhỏ đồng tiền cũng đề hai chữ Thái Bình...”(23), thì Thái Bình thông bảo có cả tiền đồng đỏ lẫn tiền kẽm.
    Những chứng cứ trên cho phép nghĩ rằng dòng tiền đồng đỏ này rất có thể được đúc ở Đàng Trong, và để loại trừ chúng được đúc ở Đàng Ngoài, ta cần so sánh thêm...
    Dòng tiền bằng đồng đỏ là một chất liệu khác hẳn vì xưa nay tiền thường được đúc bằng đồng thau. Riêng tiền Đàng Ngoài đương thời như Vĩnh Thọ (1658), Cảnh Hưng thường bị lệch khuôn ở mặt lưng, trong khi tiền Đàng Trong thì khuôn đúc rất chuẩn. Đặc điểm này còn thấy được qua sự khác nhau giữa hai loại tiền Cảnh Hưng : tiền Cảnh Hưng thông bảo đúc ở Đàng Ngoài thì có đặc điểm của tiền đàng Ngoài, còn tiền Cảnh Hưng thuận bảo do Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm đúc tại Thuận Hóa năm 1776 thì lại có đặc điểm của tiền xứ Đàng Trong...

    Những đặc điểm trên cho thấy đây là sự xuất hiện của một dòng tiền lạ và từ đó phân lập được hệ thống tiền đồng đỏ mà tôi nhận định là do Đỉnh Quốc Công Nguyễn Phúc Thụ mua đồng đỏ của Nhật Bản đúc từ năm 1725 như sau (xếp theo ABC) :

    1 Bảo Thái thông bảo


    2 Càn Nguyên thông bảo


    3 Cảnh Đức nguyên bảo


    4 Chu Nguyên thông bảo


    5 Hàm Bình nguyên bảo


    6 Hoàng Tống thông bảo


    7 Khai Nguyên thông bảo


    8 Nguyên Hựu thông bảo (2 loại chữ)


    9 Nguyên Phong thông bảo (2 loại chữ)



    10 Nguyên Phù thông bảo


    11 Phúc Bình nguyên bảo


    12 Thái Bình thông bảo


    13 Thánh Nguyên thông bảo (2 loại chữ)

    14 Thánh Tống nguyên bảo


    15 Thiệu Phù nguyên bảo (2 loại chữ)


    16 Thiệu Thánh nguyên bảo (2 loại chữ)


    17 Thiệu Tống nguyên bảo

    18 Tường Phù nguyên bảo


    19 Trị Bình nguyên bảo

    20 Trị Bình thông bảo

    21 Vĩnh Thịnh thông bảo


    GIẢI THÍCH Ý NGHĨA...
    Vào thời đại đại mậu dịch quốc tế như thế, tiền tệ là yếu tố rất cần thiết phải có. Và trong dòng chảy lịch sử tiền tệ mậu dịch quốc tế, khởi đầu là đúc tại Nagasaki năm 1659, thời điểm mà người Thanh mới chiếm Trung Quốc, kiểm soát gắt gao các thế lực phản Thanh phục Minh. Do vậy, khi giao lưu thương mãi với Trung Quốc, một thị trường rộng lớn sôi động, trước đây Ieyasu đã bắt buộc các thương thuyền phải mang theo văn thư có áp dấu châu ấn và ”Thương gia Nhật Bản khi vượt biển đi buôn bán xa xôi không được vi phạm chính trị ở những quốc gia đi đến”(24), nên chỉ đúc các hiệu tiền Đường - Tống là những vật dụng không liên quan đến chữ “Minh” nào!
    Đến khi các tàn quân Đại Minh chạy sang trú ngụ ở Đàng Trong (Việt Nam), ban đầu chúa Nguyễn Phúc Thụ cũng khôn khéo đúc tiền mậu dịch toàn các niên hiệu Đường - Tống để tránh va chạm chính trị với người chính quốc Đại Thanh. Tuy vậy, để biểu hiện chính trị ổn định ở Đại Việt cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài, chúa Nguyễn vẫn đúc thêm hai loại tiền mang niên hiệu vua Lê đương thời là Vĩnh Thịnh (1705-1719) và Bảo Thái (1720-1729). Sự sử dụng niên hiệu nhà Lê ở Đàng Trong còn thấy ở các văn bản hoặc di tích như chuông vạc, đình chùa miếu vũ... Và với sự phân loại, nhận định như thế, tôi xếp thêm hai hiệu tiền mang niên hiệu vua Lê kể trên vào dòng tiền đồng đỏ do chúa Nguyễn đúc từ năm 1725.
    Sau năm 1681, khi vua Khang Hy dẹp được loạn Tam phiên và các thế lực phản Thanh đều bị tẩy trừ thì tình hình chính trị ở Trung Quốc có khoan hòa hơn và sự kiểm soát có nới lỏng. Cho nên, trong hàng hóa chở sang Đàng Trong vẫn có những loại tiền cũ mang niên hiệu sơ Minh như đã kể, và trong các dòng tiền đúc thời chúa Nguyễn sau này như tiền của Mạc Thiên Tứ (1736), hoặc tiền kẽm (1746), ngoài các hiệu tiền Đường - Tống, thỉnh thoảng vẫn có những đồng tiền hiệu Minh...
    Như vậy, ngoài việc tiếp tục tìm thêm các hiệu tiền mới có đặc điểm đã nêu, cần đẩy mạnh tìm thêm tài liệu bổ sung làm sáng tỏ về dòng tiền đồng đỏ của chúa Nguyễn Phúc Thụ đúc từ năm 1725 này... Bởi đằng sau những đồng tiền ấy, phảng phát mối quan hệ quốc tế rộng lớn của chúa Nguyễn, ở thời đại mà hầu hết người Việt chúng ta còn mơ hồ về những chân trời hải ngoại xa lạ...

    Bài này đăng nguyên văn của tác giả. Hình minh họa cho bài viết là bộ sưu tập của người đăng.

    * Chú thích tài liệu tham khảo:
    (1) Chẳng hạn như: - Thành Thế Vỹ, Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ 17, 18 và đầu 19, NXB Sử học, Hà Nội, 1961. - Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, NXB Văn học, 2001. - LiTana, Xứ Đàng Trong - Lịch sử, kinh tế, xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18, NXB Trẻ, 1999.
    (2) LiTana, sđd, Tr.136.
    (3) Dagh, Register gehouden int Casteel Batavia Vant, dẫn lại theo LiTana, sđd, Tr. 138.
    (4) Thành Thế Vỹ, sđd, Tr.148.
    (5) W.J.Buch, De Oost - Indische Compangie en Quinam, Amsterdam, H.J. Paris, !929. Dẫn lại theo LiTana, sđd, Tr.138.
    (6) W.J.Buch, La Compagnie des Indes Néerlandaises et l’Indochine, dẫn lại theo Thành Thế Vỹ, sđd, Tr. 104.
    (7) Innes, The door ajar :Japan’s foreign trade in the 17th century, luận án tiến sĩ, University of Michigan, 1980, dẫn lại theo LiTana, sđd, Tr.138-139.
    (8) Trần Kinh Hòa, “Làng Minh Hương và phố Thanh Hà thuộc tỉnh Thừa Thiên”, Tạp chí Đại Học, số 3 năm 1961, Tr. 106.
    (9) Kawamoto Kuniye, “Nhận thức quốc tế của chúa Nguyễn ở Quảng Nam căn cứ theo Ngoại phiên thông thư”, Đô thị cổ Hội An, NXB KHXH, Hà Nội, 1991, Tr. 177.
    (10) Bowyear, Nhật ký về Đàng Trong năm 1695, dẫn lại theo Thành Thế Vỹ, sđd, Tr. 226-227.
    (11) Trần Kinh Hoà, “Thập thất bát thế kỷ chi Hội An Đường nhân nhai nhập kỳ thương nghiệp” (nguyên bản chữ Hán), Tân Á học báo, quyển 3, số 1, HongKong, 1960, Tr. 273-332.
    (12) Quốc sử quán triều Nguyễn (Cao Tự Thanh dịch), Đại Nam liệt truyện tiền biên, Hà Nội, 1995, Tr, 242.
    (13) Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Phan Quang, Nguyễn Cảnh Minh, Lịch sử Việt Nam (1427-1858), Quyển 2, Tập 1, Sách Đại học Sư Phạm, NXB Giáo dục, 1977, Tr.159.
    (14) Lê Quý Đôn (Lê xuân Giáo dịch), Phủ biên tạp lục, Sài Gòn, 1972, Tập 2, Tr. 44.
    (15) W.J.Buch, La Compagnie des Indes Néerlandaises et l’Indochine, dẫn lại theo Thành Thế Vỹ, sđd, Tr. 149.
    (16) Quốc sử quán triều Nguyễn (Viện Sử học dịch), Đại Nam thực lục tiền biên, tập 1, Hà Nội, 1962, Tr. 189.
    (17) Lê Quý Đôn, sđd, Tr. 47.
    (18) Lê Quý Đôn, sđd, Tr. 45,46.
    (19) Nguyễn Anh Huy, “Đặt lại nền tảng của phương pháp nghiên cứu tiền cổ Đông Á”, Tạp chí Khảo cổ học, số 1-1996, Tr. 21-30.
    (20) Lục Nguyên Bảo, Đông Dương cổ tiền, giá cách đồ phổ (sách chữ Nhật), Tokyo, 1973, Tr 15-16, số thứ tự từ 100-111.
    (21) Nguyễn Anh Huy, ”Những nhận định về tiên kẽm xứ Đàng Trong”, Nam Bộ - đất và người,, tập 3, NXB Trẻ, 2005.
    (22) Nguyễn Anh Huy, “Những nhận định về họ Mạc đúc tiền...”, Nam Bộ - đất và người,, tập 2, NXB Trẻ, 2004.
    (23) Lê Quý Đôn, sđd, Tr. 46.
    (24) Nguyễn Văn Kim, Chính sách đóng cửa của Nhật Bản thời kỳ Tokugawa : nguyên nhân và hệ quả, NXB Thế giới, Hà Nội, 2000, Tr. 269.
    [a] LiTana, sđd, Tr.235-236 có giải thích rằng “Bị ám ảnh bởi nền văn hóa Trung Hoa, Lê Quý Đôn đôi khi đã lầm tiền đồng Nhật thành tiền đồng Trung Hoa. Chẳng hạn ông nói là vào năm 1774 quân của chúa Trịnh đã tìm thấy hơn 300.000 quan tiền đồng tốt nhất trong kho của họ Nguyễn tại Huế.. Theo ông, đa số là tiền đồng Trung Hoa thời Tống (960-1279), và khi họ Nguyễn đúc tiền kẽm vào thập niên 1740, họ đã nhái lại dáng kiểu của đồng tiền Tường Phù của Trung Hoa (1008-1016). Tuy nhiên, nếu chúng ta so sánh đồng tiền kẽm có khắc các chữ Tường Phù thông bảo, rất có thể là do họ Nguyễn đúc vào thập niên 1740, chúng ta sẽ thấy là nó khác với đồng Tường Phù của Trung Hoa đời nhà Tống. Phải hơn, đồng tiền này nhái lại đồng Shofu gempo [Tường Phù nguyên bảo] của Nhật, một trong những đồng tiền Nhật phổ biến nhất được đúc theo đồng tiền của Trung Hoa đời nhà Tống và nhà Minh. Đồng tiền này được đúc tại Nagasaki giữa các năm 1659 và 1684, cũng có những chữ Hán như vậy nhưng theo một mẫu khác. Do đó, rất có thể là trong số 300.000 quan tiền đồng tìm thấy trong kho của họ Nguyễn vào năm 1774, một phần lớn là tiền Nhật”.
    Cách giải thích trên của LiTana hoàn toàn đúng theo lối lý luận, nhưng lại không chính xác vì thực tế tôi tìm hiểu nhiều thì thấy tiền lưu hành ở Đàng Trong đa số là tiền Trung Quốc, còn tiền Nhật cũng có nhưng số lượng rất ít, như vậy cách giải thích của Lê Quý Đôn phù hợp thực tế hơn. Ngay cả tiền mậu dịch của Nhật đúc tại Nagasaki cũng chỉ sử dụng lại các hiệu tiền của Trung Quốc, vậy thì việc chúa Nguyễn nhờ Hoa kiều đúc tiền cho mình như tiền Tường Phù thì hiệu tiền này cũng lấy lại theo hiệu tiền Trung Quốc chứ không thể giải thích là theo kiểu Nhật.


    * Ngoài những hiệu tiền như tác giả nêu trên, người sưu tập bổ sung thêm một số hiệu để tiện tham khảo :



    .
    Last edited by dungdang; 01-15-2015 at 03:27 PM.
    Trung ngôn nghịch nhĩ.

+ Trả lời bài viết

Từ khóa liên quan đến chủ đề

Quyền viết bài

  • Bạn không thể tạo chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của bạn