• Chuyện buôn tiền ngày trước.

    (Theo Báo CAND, ngày 07-6-2009)
    Cùng với quá trình giao thương buôn bán, người Pháp, người Tây Ban Nha đã lần lượt giới thiệu và tìm cách lưu hành đồng tiền của họ vào Việt Nam. Các loại tiền này đều được đúc bằng bạc nguyên chất, trùng với bản vị tiền Việt nên cũng không quá khó khăn để được người Việt - chủ yếu là người Đàng Trong - chấp nhận.
    ________________________________

    Tiền đồng - tiền bạc
    [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/UserXP/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image001.jpg[/IMG]
    Đồng bạc Mexicana
    Các triều đại phong kiến Việt Nam đều rất chú trọng đến việc thống nhất tiền tệ trong cả nước. Mỗi triều đại đều tổ chức đúc loại tiền của riêng mình. Năm 1803, một năm sau ngày lên ngôi, Hoàng đế Gia Long đã giao cho Thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Khiêm thành lập và đặc trách Cục Bảo Tuyền (còn gọi là Bắc thành tiền cục) có nhiệm vụ đúc tiền, bạc nén, vàng thoi theo hình thức, kích thước và trọng lượng đúng quy chuẩn để cung cấp lưu thông trên cả nước. Bạc nén, vàng thoi đều phải đóng dấu hai chữ “Trung Bình” trước khi đưa ra lưu hành hay cất kho tích trữ. Cùng một trọng lượng, bạc nén có dấu trên thị trường được tính giá cao hơn bạc nén không dấu.
    Mỗi quan tiền “Gia Long thông bảo” có đường kính 5 phân 3 ly, nặng 2 đồng cân 4 lạng (đơn vị ngày xưa), được đúc bằng đồng. Do nguyên liệu đúc tiền nên khái niệm “tiền đồng” hay “đồng” được dùng thành quen, thay thế cho chữ “quan tiền”. Các triều đại sau cũng lần lượt phát hành thêm những đồng tiền mang niên hiệu của từng đời vua như “Minh Mạng thông bảo”, “Tự Đức thông bảo” v.v...
    Trong một thời gian dài đến đầu thế kỷ XX, một cách không chính thức, bạc vẫn được xem là bản vị của đồng tiền (ngân bản vị). Giá trị của tiền so với bạc và vàng biến thiên tùy thời điểm. Năm 1812, Vua Gia Long định giá 1 lạng bạc bằng 2,8 quan tiền “Gia Long thông bảo”, 1 lạng vàng bằng 10 lạng bạc. Các triều đại sau định giá 1 lạng vàng bằng 17 lạng bạc. Năm 1867, triều Tự Đức định giá 1 lạng bạc bằng 10 quan tiền “Tự Đức thông bảo”. Năm 1884, đĩnh vàng 1 lượng đúng 10 tuổi được tính 300 quan tiền, cứ non đi 1 tuổi (hàm lượng vàng giảm 1%), đĩnh vàng bị bớt giá 15 quan tiền.
    Mỗi quan tiền vì vậy có giá trị khá lớn, không tiện dụng trong các giao dịch nhỏ lẻ của đời sống. Do vậy, mệnh giá tiền lại tiếp tục được chia nhỏ: 1 quan bằng 10 tiền, 1 tiền bằng 60 đồng (đúc bằng nguyên liệu chính là kẽm, pha chì, thiếc và một hàm lượng đồng nhỏ), gọi là đồng kẽm. Như vậy, mỗi quan tiền có giá trị bằng 600 đồng kẽm.
    Bắt đầu từ năm 1816, năm chính thức lưu hành tiền “Gia Long thông bảo”, việc phát lương cho quan lại hay cung cấp tài chính cho địa phương đều sử dụng tiền đồng. Người dân nộp thuế cũng nộp bằng tiền đồng nhưng có thể quy ra bạc để nộp thay thế. Thời Minh Mạng, triều đình đã có 4 lần chở tiền từ Phú Xuân vào cung cấp cho Gia Định thành và các tỉnh miền Nam.
    Năm 1820, chở 200 ngàn quan; năm 1821, chở 50 ngàn quan; năm 1824, chở hai lần, đầu năm cấp riêng cho Gia Định thành 200 ngàn quan, đến tháng 6 lại cấp thêm cho các tỉnh từ Quảng Nam đến Gia Định thành 750 ngàn quan.

    Đồng bạc con cò và chiến tranh bạc cắc
    Cùng với quá trình giao thương buôn bán, người Pháp, người Tây Ban Nha đã lần lượt giới thiệu và tìm cách lưu hành đồng tiền của họ vào Việt Nam. Các loại tiền này đều được đúc bằng bạc nguyên chất, trùng với bản vị tiền Việt nên cũng không quá khó khăn để được người Việt - chủ yếu là người Đàng Trong - chấp nhận.
    Theo nghiên cứu của bác sĩ Nguyễn Anh Huy, một nhà sưu tầm tiền cổ, thì từ năm 1741, tức năm Cảnh Hưng thứ 2, chúa Nguyễn Phúc Khoát đã ban bố một đạo dụ quy định 1 đồng bạc Pháp tròn có tỉ lệ ăn 1,3 quan (780 đồng kẽm) và 1 đồng bạc vuông Mexico ăn 1 quan 2 tiền 48 đồng (768 đồng kẽm).
    Theo thời gian, phần thắng thuộc về đồng bạc Mexicana. Dù đây không phải là đồng tiền riêng của bất kỳ nước nào, nhưng do trọng lượng chuẩn (mỗi đồng nặng 0,72 lạng bạc), hàm lượng tinh chất bạc bảo đảm nên nó được chấp nhận ở hầu như tất cả các hải khẩu có quan hệ giao thương quốc tế nhộn nhịp, từ Trung Hoa đại lục, Hồng Công, Singapore, Xiêm đến Đàng Trong và sau này là toàn cõi Đông Dương. Nó vừa được xem như một thứ đơn vị để tính toán, lại vừa được dùng làm tiền mặt để thanh toán trong các thương vụ giao dịch lớn giữa thương buôn các nước. Một mặt của loại tiền này có in nổi hình con ó biển. Người miền Nam nôm na gọi biến nó thành... con cò và cho ra đời tên gọi “đồng bạc con cò”! Người miền Bắc lại có vẻ chú ý nhiều hơn đến hình đốm lửa như cánh hoa nở bung ở mặt thứ hai của đồng tiền để gọi nó là “đồng bạc trắng hoa xòe”.
    Sau khi hạ thành Gia Định, ngày 10/4/1862, Tổng chỉ huy liên quân Pháp - Tây Ban Nha, Thiếu tướng Bonard đã ký quyết định cho phép hợp pháp hóa việc lưu hành đồng Mexicana trong những vùng lãnh thổ mà Pháp đã chiếm. Khái niệm “đồng bạc”, “tiền bạc” bắt đầu phổ biến trong giai đoạn này, bên cạnh quan, tiền và tiền đồng, tức loại tiền “thông bảo” đã phổ biến và thông dụng từ trước đó.
    Đối với người Pháp, sử dụng tiền đồng, tiền kẽm quả là điều quá bất tiện. Mỗi đồng Mexicana đổi được hàng kilôgam tiền kẽm. Mỗi lần đi chợ mua thức ăn cho lính, sử dụng tiền kẽm thì phải chở theo cả xe bò tiền! Đồng Mexicana vì thế càng trở nên thông dụng bởi được cả người Pháp lẫn người dân sở tại chấp nhận.
    Chiếm xong Nam Kỳ, Pháp đã ban hành nhiều đạo luật nhằm kiểm soát chặt làn sóng nhập cư và sự thao túng thương nghiệp của người Hoa. Để trả đũa, người Hoa ở Chợ Lớn nảy ra “sáng kiến” đục chính giữa đồng bạc con cò một cái lỗ tròn (chắc để dễ luồn dây vào xâu như tiền phương Đông). Việc này dĩ nhiên khiến trọng lượng bạc của đồng Mexicana bị hao hụt và khiến nó bị mất giá.
    Bất chấp điều đó, tại khu vực Chợ Lớn, người Hoa chỉ chấp nhận tiền đã đục lỗ, cương quyết không bán hàng cho người Pháp, nếu họ đưa tiền còn nguyên chưa đục. Do người Hoa nắm gần như trọn vẹn nền thương mại bản địa nên bất đắc dĩ, người Pháp phải sang tận Hồng Kông mua - với giá rất đắt - tiền đã đục lỗ (gọi là chop dollar - tiền dấu) để về cung cấp cho việc giao dịch, mua bán hậu cần của lính đồn trú vùng Sài Gòn - Chợ Lớn.
    Lo đủ tiền dấu cho Nam kỳ thuộc địa, người Pháp lại vấp phải thiệt hại nặng hơn khi họ cần tiền Mexicana cho những giao dịch khác ngoài xứ Nam Kỳ. Dĩ nhiên là các khách hàng nơi khác, ngoại trừ Hồng Kông và Sài Gòn, chỉ nhận tiền nguyên không bị đục lỗ (gọi là clean dollar - tiền sạch).
    Hết cách, người Pháp lại phải sang Hồng Kông mua tiền sạch với giá cao hơn 50%! Nhưng cứ hễ đồng tiền sạch nào mua được thì thương nhân người Hoa lại cho nó biến mất ngay đồng ấy và gửi chúng về Hồng Kông để chờ bán lại cho người Pháp, khiến giá trị của đồng bạc sạch cứ thế bị đội lên mãi.
    Rắc rối thứ hai thì lại do chính người Pháp khơi mào trước. Mệnh giá của đồng Mexicana quá lớn nên rất khó khăn cho việc giao dịch cá nhân nhỏ lẻ. Người Pháp nảy ra sáng kiến cắt đồng bạc thành 4 phần bằng nhau. Khi mua bán, nó chỉ có giá trị 25 xu, nhưng khi quy đổi thì đồng góc tư hay đồng nguyên vẹn cũng phải được xem là 1 đồng.
    Thấy vậy, người Hoa lại “chơi” người Pháp thêm cú nữa, không cắt 4 mà cắt 5 đồng bạc để dùng trong vùng Sài Gòn. Vậy là trong giao dịch dân sự, vô tình người Pháp đã phải trả 1 quan tiền cho một món hàng chỉ 20 xu nhưng vẫn phải cắn răng mà chịu. Cũng từ đây khái niệm “bạc cắc” hay “cắc bạc”, có lẽ đọc trại từ chữ “bạc (bị) cắt” ra đời để chỉ... tiền lẻ, tiền có mệnh giá nhỏ!
    Ngày 23/6/1863, thủy sư Đô đốc La Grandiere, Thống đốc Nam Kỳ phải ra sắc lệnh thừa nhận: “Việc làm này (đục lỗ và cắt nhỏ tiền) gây nhiều khó khăn cho nền thương mại ở Sài Gòn, làm thương tổn một cách nghiêm trọng đến ngân quỹ”. Đồng thời, viên Thống đốc cũng thừa nhận “đồng bạc có đánh dấu bao giờ cũng kém giá trị hơn đồng bạc không đánh dấu”.
    Để chống lại chiêu bài đầu cơ tiền gây thiệt hại lớn và khẳng định tính quyền hạn tại Nam Kỳ, năm 1864, người Pháp đã cho đưa sang lưu hành tại Nam Kỳ một lượng lớn các loại tiền 5 frăng, 1 frăng và cả đồng tiền centime mệnh giá nhỏ. Tuy nhiên, người dân vẫn chỉ quen sử dụng “đồng bạc con cò” trong giao dịch. Còn người Hoa thì rất sẵn lòng nhận tiền frăng, nhưng thu được đồng nào, họ giấu ngay đồng ấy, sau đó tuồn chúng về Hồng Kông nấu chảy để lấy bạc.
    Chẳng bao lâu, lượng tiền Pháp mang sang đã bốc hơi sạch sẽ, chẳng còn lại đồng nào. Người Pháp tiếp tục phải quay lại với vòng quay điên đảo của chop dollar – clean dollar và tiếp tục chịu thiệt hại.
    Mãi tới năm 1879, 4 năm sau khi áp đặt được ách đô hộ lên toàn cõi Việt Nam, người Pháp mới chấm dứt được nạn đầu cơ tiền này. Ngân hàng Đông Dương đã cho đúc loại tiền Piastre de Commerce - Cochinchine FranCaise (Nam Kỳ thuộc Pháp) theo ngân bản vị, có hình bà đầm, biểu tượng của nền cộng hòa Pháp, thường gọi là “bạc đầm xòe”.
    Mỗi đồng “bà đầm xòe” (piastre) có trọng lượng chuẩn và giá trị quốc tế đúng bằng trọng lượng đồng Trade Dollar của Mỹ là 27,2156g bạc tuổi 0,900. Đi kèm với nó còn có những đồng 10, 20, 50 cents với tỉ lệ 1 piastre bằng 100 cents. Tuy nhiên, dù đã có loại tiền mới này thì các loại tiền cũ vẫn còn được lưu hành, đến đầu thập niên 30 của thế kỷ XX mới thật sự chấm dứt vai trò.
    Công nghệ buôn tiền
    Sau Chiến tranh thế giới thứ II, tỉ giá hối đoái chính được ấn định là 1 đồng Đông Dương ăn 8 đồng frăng Pháp. Để khuyến khích đầu tư làm ăn tại xứ thuộc địa đang trong tình trạng chiến tranh, Chính phủ Pháp cho phép 1 đồng bạc đầu tư tại Đông Dương được thu đổi ăn 17 đồng frăng tại Paris. Mỗi nhà kinh doanh chỉ được đổi theo tỉ lệ này trong một hạn ngạch nhất định.
    Tháng 4/1946, cựu hoàng Bảo Đại trốn sang Hồng Kông, được tình báo Pháp vồ vập chào với vị trí “Quốc trưởng” nhằm tạo một giải pháp cho vũng bùn chính trị của “Quốc gia Việt Nam”. Những khoản tiền tài trợ Chính phủ Pháp dành cho Quốc trưởng Việt Nam đều được Bảo Đại yêu cầu chuyển bằng đồng bạc Đông Dương.
    Thông qua cô vũ nữ Lý Lệ Hà, từ trong nước, Thủ hiến Phan Văn Giáo rồi sau đó là tỉ phú người Hoa Lý Long Thân cũng gom tiền Đông Dương chuyển sang Hồng Kông cho Bảo Đại. Quốc trưởng thanh toán lại cho họ bằng đôla Hồng Kông với tỉ lệ (tính bằng tiền frăng) là 1/8. Sau đó, ông đem những đồng bạc ấy đến Paris và đổi thành tiền frăng, theo tỉ lệ ưu đãi 1/17 và lại chuyển chúng về Sài Gòn. Khoản chênh lệch nhờ những cú buôn tiền này rất lớn, thừa đủ cho cựu hoàng ăn chơi nơi đất khách.
    Tiền Hồng Kông được cựu hoàng thanh toán, Phan Văn Giáo, ngài thủ hiến xuất thân là dược sĩ không chuyển tiền mà mua hàng chục hòm thuốc Tây mang về tuồn ra chợ đen, thu lãi thêm một lần nữa. Quốc trưởng không cần quan tâm điều đó, chỉ việc đợi các cận thần “cống nạp” lợi tức.
    Đóng vai trò quan trọng nhất trong việc chỉ huy, điều khiển toàn bộ đường dây buôn tiền này là nhà tư sản mại bản Lý Long Thân. Bung tiền ra mua chuộc, vận động, Lý Long Thân đã cắm được một tay chân tin cẩn là Mã Tuyên vào Ngân hàng Việt Nam Thương tín tại Sài Gòn giữ chân “Hoa vụ kinh lý” phụ trách việc thu gom vốn và chuyển tiền giữa người Hoa Sài Gòn - Chợ Lớn với Hồng Kông.
    Ở vị trí này, Mã Tuyên dễ dàng tìm được giấy phép cho Trang Trinh Nghi (tức Trang Tôn), một “đặc phái viên” khác của Lý Long Thân chuyển những khoản tiền Đông Dương cực lớn thu gom được sang Hồng Kông cho cựu hoàng Bảo Đại. Là Quốc trưởng, Bảo Đại chẳng việc gì phải khai báo để xin hạn ngạch hay phải khai báo gì về nguồn gốc của lượng tiền mặt rất lớn được tẩy rửa.
    Hết giúp vua, Lý Long Thân lại quay sang giúp giặc. Hý trường Đại Thế Giới, xóm nhà thổ Bình Khang bị Ngô Đình Diệm đóng cửa khiến Lê Văn Viễn hụt một khoản thu nhập tài chính lớn. Để nuôi đám quân Bình Xuyên ô hợp, Lý Long Thân bày mưu cho Bảy Viễn phát hành tờ bạc “Phật lăng Bình Xuyên”. Không bảo chứng, không bản vị, chỉ là một mớ giấy lộn không hơn, nhưng dưới những họng tiểu liên của đám Bình Xuyên, nhân dân khu vực cầu chữ Y, cầu Chánh Hưng vẫn buộc phải chấp nhận.
    Với tiền “Phật lăng Bình Xuyên”, Lý Long Thân đã điều khiển hàng trăm tên lính Bình Xuyên tỏa vào Chợ Lớn mua vét hàng hóa đem đi nơi khác bán lại, đổi lấy tiền Đông Dương và quan Pháp. Lợi nhuận thu được khiến chỉ trong một thời gian ngắn, Bảy Viễn đã thu nhận thêm được một đám du thủ du thực đến đầu quân, chuẩn bị lực lượng đánh nhau với quân đội của anh em Diệm - Nhu.
    Mỗi tên mới gia nhập được phát ngay 10.000 đồng “Phật lăng Bình Xuyên”. Đến tháng 3/1955, nhờ phi vụ rửa tiền này, Lý Long Thân lại mua được thêm cho Bảy Viễn 100 khẩu tiểu liên M3, M1, Garrand, 4 khẩu súng cối 60 ly và 10.000 viên đạn các loại.
    Vì “thành tích” phá hoại tiền tệ này, ngày 14/5/1955, sau khi Bảy Viễn và đám tàn quân Bình Xuyên bị đập tan, Lý Long Thân đã bị Cảnh sát mật vụ của chế độ Diệm còng tay ngay tại sân bay Tân Sơn Nhất khi nhà tỉ phú định đào thoát sang Hồng Kông. Các bang trưởng người Hoa Chợ Lớn phải chạy vạy khắp nơi cầu cứu; Trầm Tố Tâm, Tổng lãnh sự Đài Loan tại Nam Việt Nam cũng đứng ra bảo lãnh và gây sức ép, chính quyền Diệm mới miễn cưỡng tha cho họ Lý. Tất nhiên, vụ chạy tội này cũng khiến Lý Long Thân tốn mất một núi tiền.
    Tiền đẩy kẻ tham vọng họ Lý vào vòng tội lỗi rồi cuối cùng cũng nhờ có tiền, họ Lý lại thoát ra!

    Nguyễn Hồng Lam
  • Tin mới nhất Tin mới nhất

  • Phóng sự GiaDinh-numis.com

    Đặng Đức Dũng - Tiền cổ theo dòng chảy lịch sử - 2013

    Sài Gòn xưa và nay - 2013

    Đặng Đức Dũng - Theo Dấu Cổ Tiền - 2012

    Đặng Đức Dũng - Bộ sưu tập tiền cổ - 2012

    Đặng Đức Dũng- Sắc màu cuộc sống - 2012

    Đặng Đức Dũng - Bản Sắc Việt - 2011

    Nghệ Nhân Sưu Tầm Tiền Cổ - 2010